Nguyên nhân - Triệu chứng Bệnh loãng xương & bài thuốc chữa

Nguyên nhân – Triệu chứng Bệnh loãng xương & bài thuốc chữa

Xương là một mô liên kết đặc biệt có 3 chức năng: vận động, bảo vệ và chuyển hóa. Xương được cấu tạo bởi 2 thành phần cơ bản là khuôn xương và các hợp chất khoáng

Khuôn xương chiếm khối lượng lớn trong toàn bộ xương gồm các sợi colagen, các mô liên kết khác rất giàu chất glucoaminoglycin và các tế bào (tạo cốt bào và huỷ cốt bào). Trên các khuôn
bằng chất hữu cơ này các hợp chất khoáng calci và phospho sẽ cố định và làm cho xương trở nên rắn chắc, chịu lực, chịu tải.

Mô xương luôn được thay cũ đổi mới trong suốt cuộc đời, hủy cốt bào phá hủy phần xương cũ, đồng thời tạo cốt bào tạo nên xương mới để bù đắp lại, hai quá trình này cân bằng nhau ở người
trưởng thành, nhưng tạo nhiều hơn ở người trẻ và huỷ nhiều hơn ở người già.

Có nhiều yếu tố tác động vào sự điều hòa quá trình tạo và huỷ xương như: di truyền, tuổi, giới, dinh dưỡng, nội tiết, sự sinh sản, nghề nghiệp, các thói quen trong cuộc sống như vận động, tĩnh
tại….

Là hiện tượng tăng phần xốp của xương do giảm số lượng tổ chức xương, giảm trọng lượng trong một đơn vị tổ chức xương, là hậu quả của sự suy giảm các khung protein và lượng calci gắn
với các khung này. Về giải phẫu bệnh thấy các bè xương teo, mỏng và thưa, phần vỏ xương mỏng, tạo cốt bào thưa thớt, không thấy các đường diềm dạng xương (bordures ostéoides), tủy
xương nghèo và thay bằng tổ chức mỡ.

Nguyên nhân - Triệu chứng Bệnh loãng xương & bài thuốc chữa

Đặc điểm dịch tễ học của loãng xương

Loãng xương đang là vấn đề lớn đối với sức khỏe cộng đồng, trong đó riêng loãng xương nguyên phát được các chuyên gia y học thống kê như sau:

Ở Mỹ mỗi năm có khoảng 1,5 triệu người gãy xương do loãng xương, đòi hỏi chi phí lên tới 7 – 10 tỷ đô la mỗi năm cho các trường hợp này.
Ở Pháp số phụ nữ bị loãng xương sau mãn kinh ước tính khoảng 4,5 triệu người trong đó 10% bị tàn phế.
Ở châu Âu: 20% phụ nữ tuổi 65 có ít nhất là một hoặc nhiều tổn thương ở cột sống, xương cổ tay, cận đầu xương đùi và 40% trong số này sau đó có thể bị gãy xương.
Ở Hồng Kông năm 1993 thống kê thấy có 380 trường hợp gãy xương trên 100000 phụ nữ và ở nam giới con số này là 200/100000.

Quan niệm của Y học cổ truyền về bệnh loãng xương

Theo Y học cổ truyền biểu hiện của loãng xương cũng được mô tả trong phạm vi chứng hư lao, là tên gọi chung của cả ngũ lao thất thương và lục cực.

Bệnh chứng này được nêu trong sách Nạn kinh và định cách điều trị. Sách Kim quỹ yếu lược đem chứng này thành ra một thiên riêng, viết thêm về cách phân biệt mạch, chứng và phương dược
điều trị. Đến thời đại Kim nguyên thì Lý Đông Viên và Chu Đan Khê có thêm ý kiến về chứng lao quyện nội thương, Đông Viên sở trường dùng thuốc cam ôn để bổ trung khí và Đan Khê giỏi về
thuốc tư âm để giáng hỏa. Sau đó các đời sau như Nguyên, Minh, Thanh đều có sách vở nói đến bệnh lý này.

Theo sách Nội kinh: Ngũ lao là nhìn lâu hại huyết, nằm lâu hại khí, ngồi lâu hại thịt, đứng lâu hại xương, đi lâu hại gân (còn gọi là tâm lao, phế lao, tỳ lao, thận lao, can lao). Thất thương là ăn no
quá hại tỳ; giận quá hại can; gắng sức, mang nặng quá, ngồi lâu chỗ đất ướt tổn thương thận; để thân thể bị lạnh tổn thương phế; buồn rầu lo nghĩ tổn thương tâm; mưa gió rét nắng thì tổn
thương hình thể; khiếp sợ quá không tiết chế được thì tổn thương ý chí. Lục cực là khí cực, huyết cực, cân cực, cơ nhục cực, cốt cực, tinh cực.

Như vậy, loãng xương là một trong các bệnh lý thuộc chứng hư lao, đó là thận lao hay cốt cực.

Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh bệnh loãng xương

Nguyên nhân bệnh loãng xương

Bản chất của loãng xương là do thiếu sót trong khâu sản xuất khung xương, còn các rối loạn chuyển hóa calci – phospho, nhất là tăng calci niệu chỉ là thứ phát và chỉ rõ rệt nếu loãng xương tiến
triển nhanh chóng.

Người ta phân biệt loãng xương nguyên phát và thứ phát.

Loãng xương nguyên phát

Loãng xương nguyên phát gặp ở tuổi già, do quá trình lão hoá của tạo cốt bào gây nên thiểu sản xương, tuổi càng cao thì tình trạng thiểu sản xương càng tăng, cho đến khi trọng lượng riêng
giảm trên 30% so với bình thường thì có dấu hiệu lâm sàng và coi là bệnh lý vì vượt quá giới hạn sinh lý bình thường.

Gặp ở tuổi mãn kinh do rối loạn và thiếu hụt kích tố nữ.

Loãng xương thứ phát

Thấy ở mọi lứa tuổi và do nhiều nguyên nhân khác nhau:

− Bất động quá lâu: do bệnh, do nghề nghiệp, những người du hành vũ trụ ở lâu trong con tàu…
− Do bệnh ống tiêu hóa, hoặc do dinh dưỡng:

+ Hội chứng kém hấp thu.
+ Cắt đoạn dạ dày.
+ Thức ăn thiếu calci.
+ Bệnh Scorbut.

− Do có bệnh nội tiết: Cường vỏ thượng thận (Cushing), suy tuyến sinh dục
(cắt buồng trứng, tinh hoàn), cường giáp, to viễn cực…
− Do thận: Suy thận mạn (thải nhiều calci), chạy thận nhân tạo chu kỳ…
− Do thuốc: Lạm dụng steriod, heparin…

Nguyên nhân - Triệu chứng Bệnh loãng xương & bài thuốc chữa

Những yếu tố nguy cơ gây loãng xương

− Yếu tố di truyền.
− Thiếu sót trong cấu trúc hoặc trong tổng hợp chất tạo keo, thể trạng quá gầy.
− Do dùng thuốc: Chống co giật, hóa trị liệu ung thư, lạm dụng rượu.
− Hút thuốc lá.
− Cafein: Uống > 5 tách cà phê 1 ngày.

Bảng xếp loại nguyên nhân loãng xương theo mức độ xuất hiện

Hay gặp Hiếm gặp
Sau mãn kinh
Tuổi cao
Suy sinh dục (cắt bỏ buồng trứng)
Điều trị bằng corticoid
Bất động lâu
Ung thư (như đa u tuỷ xương)
Thiếu niên
Tráng niên
Rối loạn nhiễm sắc thể
Hội chứng Cushing
Cường giáp
Bệnh do ứ đọng sắt

Cơ chế sinh bệnh loãng xương

Thiểu sản xương và mức độ nặng hơn của nó là loãng xương là hậu quả của sự phá vỡ cân bằng giữa hai quá trình tạo xương và hủy xương, ở đây quá trình tạo xương suy giảm trong khi quá
trình hủy xương bình thường; nguyên nhân của hiện tượng này giải thích bằng nhiều cách:

− Theo Albright: Loãng xương là sự mất cân bằng giữa suy giảm nội tiết tố sinh dục trong khi nội tiết tố vỏ thượng thận bình thường.

− Theo Nordin: Ở người già hấp thu calci qua đường tiêu hóa giảm, lượng calci qua đường tiêu hóa giảm, lượng calci máu thấp sẽ kích thích tuyến cận giáp tiết nhiều parathormon, chất này kích
thích hủy cốt bào tăng cường hoạt động.

− Theo Frost: Lão hoá của tạo cốt bào ở người già là nguyên nhân chủ yếu gây nên loãng xương, ở người trưởng thành hai quá trình tạo cốt và hủy cốt luôn cân bằng để duy trì cấu trúc bình
thường của xương.

Phân loại Loãng xương nguyên phát

Loãng xương nguyên phát được chia thành hai thể:

− Loãng xương tuổi mãn kinh: xuất hiện sau tuổi mãn kinh trong vòng 6 hoặc 8 năm, tổn thương loãng xương nặng ở phần xương xốp, do đó thường thấy các dấu hiệu ở cột sống như lún đốt
sống, gù, còng. Thể này được gọi là loãng xương typ I.

− Loãng xương tuổi già: gặp cả ở nam và nữ xuất hiện sau tuổi 75, tổn thương loãng xương thấy nhiều ở phần xương đặc (vỏ các xương dài), thường biểu hiện bằng dễ gãy xương (cổ xương
đùi, cổ tay). Thể này được gọi là loãng xương typ II.

Loãng xương thứ phát

Loãng xương thứ phát có triệu chứng lâm sàng giống loãng xương nguyên phát.

Nguyên nhân, bệnh sinh theo y học cổ truyền

Bẩm sinh không đầy đủ

Khi thụ thai, do cha mẹ tuổi lớn, sức yếu, tinh huyết kém, hoặc khi mang thai không điều dưỡng giữ gìn, sự dinh dưỡng cho thai nhi kém.

Lao thương quá độ

Làm việc phải đứng lâu và nhiều, gắng sức, mang nặng quá, ngồi lâu chỗ đất ẩm ướt.

Dinh dưỡng không đầy đủ

Dinh dưỡng không đầy đủ ảnh hưởng đến sự tạo tinh huyết, lại cảm nhiễm hàn tà làm rối loạn sự vận hành khí huyết trong cơ thể gây đau tức trong xương.

Tân dịch, tinh, huyết… bên trong cơ thể đều thuộc âm. Vì thế chứng âm hư bao gồm: huyết hư cùng chứng tân dịch bên trong bị khô ráo, âm tinh hao tổn do âm dịch không đầy đủ, hư hỏa bốc
lên nên bệnh sinh sẽ có các biểu hiện sớm nhất là huyết hư dẫn đến khí hư, thận âm hư dẫn đến thận khí hư.

Nguyên nhân - Triệu chứng Bệnh loãng xương & bài thuốc chữa

Chẩn đoán bệnh loãng xương

Những biểu hiện lâm sàng bệnh loãng xương

Những biểu hiện lâm sàng chỉ xuất hiện khi trọng lượng của xương giảm trên 30%. Triệu chứng lâm sàng có thể xuất hiện đột ngột sau một chấn thương nhẹ (ngã ngồi, đi ô tô đường xóc
nhiều…) hoặc có thể xuất hiện từ từ tăng dần.

− Đau xương: thường đau ở vùng xương chịu tải của cơ thể (cột sống thắt lưng, chậu hông), đau nhiều nếu là sau chấn thương, đau âm ỉ nếu là tự phát. Đau tăng khi vận động đi lại, đứng ngồi
lâu; giảm khi nằm nghỉ.

− Hội chứng kích thích rễ Thần kinh: đau có thể kèm với dấu hiệu chèn ép kích thích rễ Thần kinh như đau dọc theo các dây Thần kinh liên sườn, dọc theo dây Thần kinh đùi bì, dây tọa… đau
tăng khi ho, hắt hơi, nín hơi… nhưng không bao giờ gây nên hội chứng ép tủy.

Thăm khám

− Cột sống: Biến dạng đường cong bình thường như gù ở vùng lưng hay thắt lưng, gù có đường cong rộng (ít khi là gù nhọn), có thể lại quá cong về phía trước (hyperlordose), một số trường
hợp gù ở mức độ nặng gập về phía trước gây nên tình trạng còng lưng (hay gặp ở loãng xương typ I sau mãn kinh). Chiều cao của cơ thể giảm vài cm so với lúc trẻ tuổi.

Nếu đau nhiều, các cơ cạnh cột sống có thể co cứng phản ứng, khiến bệnh nhân không làm được các động tác cúi, ngửa, nghiêng, quay; cột sống trông như cứng đờ. Gõ hoặc ấn vào các gai
sau của đột sống bệnh nhân thấy đau trội lên.

− Toàn thân: không thấy các dấu hiệu toàn thân (nhiễm khuẩn, suy sụp, sút cân), thường thấy các rối loạn khác nhau như của tuổi già như béo bệu, giãn tĩnh mạch ở chân, thoái hóa khớp, tăng
huyết áp, xơ vữa mạch.

Tiến triển bệnh loãng xương

Đau do loãng xương tiến triển từng đợt, khi tăng, khi giảm, thường trội lên khi vận động nhiều, chấn thương nhẹ, thay đổi thời tiết.

Chiều cao cơ thể giảm dần, một số trường hợp lưng còng gập dần khiến cho các xương sườn cuối gần sát với xương chậu…

Người bị loãng xương rất dễ bị gãy xương, chỉ một chấn thương nhẹ có thể gây nên gãy cổ xương đùi, gãy hai xương cẳng tay (Pouteau – Colles), gãy xương sườn hoặc lún đốt sống chèn ép
các rễ Thần kinh gây đau nhiều, hoặc không đi lại được.

Những dấu hiệu X quang

Những dấu hiệu của loãng xương

− Xương tăng thấu quang: trên tất cả các xương đều thấy trong sáng hơn bình thường, ở mức độ nhẹ còn thấy được cấu trúc các bè xương là những hình vân dọc hoặc chéo. Nếu loãng xương
mức độ nặng thì cấu trúc bè mất, xương trong như thủy tinh, phần vỏ ngoài của đốt sống có thể đậm hơn tạo nên hình ảnh “đốt sống bị đóng khung”.

− Hình ảnh thân đốt sống biến dạng: tất cả thân đốt sống biến dạng ở các mức độ khác nhau (hình lõm mặt trên, hình thấu kính phân kỳ, hình chêm, hình lưỡi…). Nói chung chiều cao thân đốt
sống giảm rõ, có thể di lệch một phần, đĩa đệm ít thay đổi so với đốt sống.

− Hình ảnh cốt hóa và vôi hóa: cùng với quá trình loãng xương, calci lắng đọng ở một số dây chằng, sụn sườn, thành các động mạch lớn và động mạch chủ tạo nên các hình cản quang bất
thường.

Đánh giá mức độ loãng xương bằng X quang

Trên phim chụp rất khó đánh giá mức độ cản quang nhiều hay ít, vì nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố (điện thế, khoảng cách, chất lượng phim và thuốc hiện hình…); do đó người ta phải sử dụng
một số phương pháp đánh giá như:

− Đo chỉ số Barnett và Nordin: dựa vào hình ảnh X quang của xương bàn tay số 2 (métacarte), đo đường kính của thân xương D và đường kính của phần tủy xương d.

Nguyên nhân - Triệu chứng Bệnh loãng xương & bài thuốc chữa

Chỉ số này bình thường là trên 45, nếu giảm dưới 45 được coi là loãng xương.

− Đo mật độ xương: loãng xương khi < -2.
− Chỉ số Singh.
− Chụp đầu trên xương đùi ở tư thế thẳng: bình thường thấy có 4 hệ thống dải xương, trong loãng xương các hệ thống dải xương này bị đứt gẫy, mất đi ít hay nhiều tùy theo mức độ nặng nhẹ
của loãng xương; chỉ số 7 là bình thường, chỉ số 1 là nặng nhất.

Xét nghiệm sinh hóa bệnh loãng xương

− Các xét nghiệm calci máu, phospho máu, men phosphatase kiềm, hydroxyprolin niệu đềubình thường.

− Nghiệm pháp tăng calci máu: tiêm tĩnh mạch 20ml gluconat calci 10%, lấy toàn bộ nước tiểu trong 9 giờ sau khi tiêm, định lượng số calci thải ra rồi so sánh với lượng calci thải ra 9 giờ ngày
hôm trước lúc chưa tiêm. ở những người loãng xương sau khi tiêm, lượng calci thải ra cao hơn lúc bình thường 30% trở lên (vì khả năng hấp thu và giữ calci ở người loãng xương kém hơn người
bình thường).

− Nghiệm pháp vitamin D2: cho bệnh nhân uống 2 ngày liền mỗi ngày 15mg vitamin D2. Sau đó định lượng calci niệu 24 giờ sau, 48 giờ và 5 ngày sau; bình thường calci niệu tăng 50-100mg trong
24 giờ đầu, sau đó trở về bình thường. ở người loãng xương calci niệu tăng nhiều và kéo dài nhiều ngày sau.

− Nghiệm pháp cortison: trong 5 ngày mỗi ngày uống 25mg prednisolon, định lượng calci niệu từng ngày. Bình thường calci niệu không thay đổi, ở bệnh nhân loãng xương có calci niệu tăng
nhiều và kéo dài.

Chẩn đoán loãng xương:

• Đau xương ít hay nhiều kéo dài
• Có hiện tượng gẫy xương tự nhiên
• Phát hiện ngẫu nhiên khi chụp X quang
• Giảm chiều cao
• Calci huyết, phospho huyết và phosphatase kiềm bình thường
• Mất chất khoáng chủ yếu là ở cột sống và khung chậu
• Đo mật độ xương

Cần chẩn đoán phân biệt: nhuyễn xương, cường cận giáp, đa u tuỷ xương, di căn xương do ung thư…

Điều trị bệnh loãng xương

Chứng hư lao lấy nguyên khí hao tổn làm đặc trưng.

Việc điều trị ngoài sử dụng thuốc còn phối hợp các phương pháp tập luyện, khí công, xoa bóp, châm cứu, điều hòa sinh hoạt hằng ngày và ăn uống cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả
điều trị.

Điều trị dùng thuốc cho bệnh loãng xưỡng theo y học cổ truyền

Khí huyết hư

− Phép trị: điều bổ khí huyết.
− Bài thuốc: Bổ trung ích khí thang gia giảm (gồm: hoàng kỳ, bạch truật, trần bì, thăng ma, sài hồ, đảng sâm, đương quy, chích thảo).

Vị thuốc Tác dụng Vai trò
Nhân sâm Ngọt, hơi đắng, bình; vào tỳ, phế: đại bổ nguyên khí, ích huyết, sinh tân Quân
Hoàng kỳ Ngọt, ấm; vào tỳ phế: bổ khí, thăng dương khí của tỳ, chỉ hãn, lợi thủy Thần
Trần bì Cay, đắng, ấm; vào tỳ phế: hành khí, bình vị, hóa đờm, trừ thấp Thần
Sài hồ Đắng, hàn; vào can đởm, tâm bào, tam tiêu: tả nhiệt, giải độc, thăng đề Thần
Thăng ma Cay ngọt, hơi đắng; vào phế, vị, đại tràng: thanh nhiệt, giải độc, thăng đề Thần
Bạch truật Ngọt, đắng, ấm; vào tỳ vị: kiện tỳ, táo thấp, chỉ hãn, an Thần
Bạch linh Ngọt, nhạt, bình; vào tâm, tỳ, phế, thận: lợi niệu thẩm thấp, kiện tỳ, an Thần

Thận âm hư

− Phép trị: bổ thận, ích tinh, tư âm, dưỡng huyết.
− Bài thuốc: Lục vị địa hoàng hoàn gia vị

Vị thuốc Tác dụng Vai trò
Thục địa Ngọt, hơi ôn: nuôi thận dưỡng âm, bổ thận, bổ huyết Quân
Hoài sơn Ngọt, bình: bổ tỳ vị, bổ phế thận, sinh tân chỉ khát Quân
Sơn thù Chua, sáp, hơi ôn: ôn bổ can thận, sáp tinh chỉ hãn Thần
Đơn bì Cay, đắng, hơi hàn: thanh huyết nhiệt, tán ứ huyết, chữa nhiệt nhập doanh phận
Phục linh Ngọt, nhạt, bình: lợi thủy, thẩm thấp, bổ tỳ định tâm
Trạch tả Ngọt, nhạt, mát: thanh tả thấp nhiệt ở bàng quang

Thận khí hư

− Phép trị: bổ thận, trợ dương.
− Bài thuốc: Hữu quy hoàn

Vị thuốc Tác dụng Vai trò
Phụ tử Đại nhiệt, có độc, cay, ngọt: hồi dương cứu nghịch, bổ hỏa trợ dương, trực phong hàn thấp tà Quân
Quế Cay, ngọt, đại nhiệt hơi độc: bổ mệnh môn tướng hỏa Quân
Thục địa Ngọt, hơi ôn: nuôi thận dưỡng âm, bổ thận, bổ huyết Quân
Hoài sơn Ngọt, bình: bổ tỳ vị, bổ phế thận, sinh tân chỉ khát Quân
Sơn thù Chua sáp, hơi ôn: ôn bổ can thận, sinh tân chỉ hãn Thần
Kỷ tử Ngọt, bình: bổ can thận, nhuận phế táo, mạnh gân cốt Thần
Đỗ trọng Ngọt, ôn, hơi cay: bổ can thận, mạnh gân cốt Thần
Cam thảo Ngọt, bình: bổ tỳ vị, nhuận phế, thanh nhiệt giải độc, điều hòa vị thuốc Sứ

− Điều trị bằng các phương pháp không dùng thuốc:

+ Châm cứu: châm bổ hoặc cứu bổ các huyệt quan nguyên, khí hải, thận du, thái khê, mệnh môn, tam âm giao, thái xung, túc tam lý.

Bấm huyệt vùng giáp tích 2 bên cột sống và tỳ du, vị du.

+ Ăn uống: ăn đầy đủ chất, chú ý vitamin và khoáng chất.
+ Tập luyện: thể dục vận động khởi đầu từ nhẹ đến mạnh dần (cho những người già mới bắt đầu tập) tốt nhất là đi bộ (từ đi bách bộ bình thường đến đi nhanh và sau đó chạy) và bơi lội; chú ý
những tác động xương theo chiều dọc của cơ thể sẽ giúp xương mau chắc khỏe hơn, ngoài ra tất cả các môn hoạt động thể lực đều tốt như đánh cầu, khiêu vũ, tập võ dưỡng sinh… Luyện thở
giúp sự trao đổi khí tốt hơn, hỗ trợ cho sự tạo lập lại Quân bình giữa tạo xương và huỷ xương, theo xu hướng giảm quá trình huỷ xương và quan trọng hơn nữa qua đó chống được sự lão hóa tếbào cơ thể nói chung.

Nguyên nhân - Triệu chứng Bệnh loãng xương & bài thuốc chữa

Thuốc nam Gia truyền Lâm Viên

————————————————-

CHỮA BỆNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP BẤM HUYỆT, TÁC ĐỘNG, NẮN CHỈNH CỘT SỐNG TẠI LÂM VIÊN

– Điều chỉnh âm dương

– Điều chỉnh chức năng kinh lạc và khí huyết tạng phủ

– Phục hồi chức năng vận động của cân cơ xuơng khớp

– Củng cố phục hồi và tăng cường các hoạt động sống của cơ thể

HUYỆT LÀ GÌ?

Huyệt là nơi khí của tạng phủ, của kinh lạc, cân cơ xương khớp tụ lại, tỏa ra ở phần ngoài cơ thể. Nói cách khác, huyệt là nơi thần khí hoạt động vào – ra, nơi tập trung cơ năng hoạt động của
mỗi một tạng phủ, kinh lạc, nằm ở một vị trí cố định được phân bố khắp cơ thể con người.

Theo Đông y, huyệt cũng là cửa ngõ xâm lấn của các nguyên nhân gây bệnh từ bên ngoài, khi sức đề kháng của cơ thể (chính khí) bị suy giảm thì các nguyên nhân bên ngoài (tà khí) dễ xâm lấn
vào cơ thể qua các cửa ngõ này để gây bệnh.

HUYỆT TÁC DỤNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN CƠ THỂ?

Huyệt có quan hệ chặt chẽ với kinh mạch và tạng phủ mà nó phụ thuộc. Huyệt có thể nằm trên kinh mạch, cũng có thể không. Một số huyệt lại chỉ xuất hiện khi cơ thể gặp những biến cố đặc
biệt như đau ốm, bệnh tật…

Huyệt còn là nơi tiếp nhận các kích thích khác nhau. Tác động lên huyệt với một lượng kích thích thích hợp có thể làm điều hòa được những rối loạn bệnh lý, tái lập lại hoạt động sinh lý bình
thường của cơ thể.

Việc kích thích tại những huyệt vị này (bằng bấm huyệt) có thể làm những vị trí khác hay bộ phận của một nội tạng nào đó có sự phản ứng nhằm đạt được kết quả điều trị mong muốn.

Vậy bấm huyệt có thể hiểu là phương pháp nhằm tăng cường khả năng lưu thông của khí qua huyệt, cân bằng giữa khí bên trong và bên ngoài.

————————————————-

CHỮA BỆNH BẰNG THUỐC NAM GIA TRUYỀN LÂM VIÊN (LIỆU TRÌNH ĐIỀU TRỊ 1 THÁNG)

Thuốc nam Gia truyền Lâm Viên chữa bệnh Thoát vị đĩa đệm gồm các loại thảo dược 100% từ thiên nhiên, không có tác dụng phụ, không gây ảnh hưởng hại đến các bộ phận khác trên cơ thể.

Thuốc bao gồm:

– THUỐC NAM SẮC UỐNG (15 thang):
– Cách dùng: Cho 1 thang vào ấm với 2 lít nước sắc còn 1,5 lít uống thay nước trong ngày. Đun 2 lần thì bỏ, thay ấm mới. ( mỗi thang uống 2 ngày). 15 thang uống 30 ngày

– CỐT KHANG ĐAN (10 gói thuốc nam dạng bột): 
– Cách dùng: 1 gói chia làm 3 phần, mỗi ngày uống 1 phần vào buổi sáng sớm lúc đói. pha với thuốc sắc. (1 gói uống 3 ngày) Đặc trị Vôi, Gai xương khớp.

– THUỐC NAM NGÂM RƯỢU (dùng để xoa bóp): 
– Cách dùng: Ngâm với 3 lít rượu trắng. (Ngâm qua đêm là dùng được) Hàng ngày xoa bóp những chỗ đau, Buổi tối trước khi đi ngủ có thể uống 1 ly nhỏ ~ 10ml. Dùng trộn với thuốc đắp DIỆP KHANG ĐƠN.

– DIỆP KHANG ĐƠN (Thuốc nam đắp) ngoại tiêu: 
– Cách dùng: 1 ngày đắp 1 lần. Trộn 1 gói với rượu thuốc cho ướt thuốc. Để 15 phút cho ngấm thuốc rồi đắp lên vị trị cột sống bị thoát vị đĩa đệm, vôi gai cột sống. Có thể chiếu đèn hồng ngoại
15-20 phút với độ ấm vừa phải.

– Lưu ý: Không để quá 20 phút, không để nóng quá. Sau đó lấy thuốc ra để ngày hôm sau dùng tiếp. Đắp 3 lần thì bỏ thay gói mới.(3 ngày/1 gói).

– CAO KHANG ĐƠN (6 hộp cao, mỗi hộp 1 lạng uống 30 ngày):
Cách dùng: Lấy 1 phần, pha ra nước nóng, ngày uống 3 lần (1 hộp/1 lạng, uống 5 ngày)
(Thuốc Cao Khang Đơn thay thế thuốc sắc)

KIÊNG TRONG THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ: Rau muống, các loại họ đậu đỗ, măng chua, cà pháo, rau cần, mướp, cải củ, thịt trâu, thịt chó, thịt ngan, cá mè, Các chất cay nóng kích thích mạnh.

————————————————-

Trong quá trình điều trị bệnh thoát vị đĩa đệm, bệnh nhân sẽ được đội ngũ y bác sĩ tận tình chăm sóc và theo dõi kết quả, chỉ trong 1 liệu trình bạn có thể nhận thấy kết quả mang lại một cách đáng ngạc nhiên.

Lưu trú: Bệnh nhân ở xa có thể ở lại điều trị theo chỉ định của Bác sĩ và có chỗ ăn ở cho bệnh nhân.
– Bệnh nhân ở xa có thể gọi điện kể bệnh để nhà thuốc gửi thuốc về COD tận nhà (nhận thuốc trả tiền cho nhân viên bưu điện giao thuốc)

————————————————-

Các bệnh nhân có nhu cầu điều trị có thể liên hệ:
Địa chỉ: Lô 3, Khối chế biến Lâm Sản 2, Phường Quang Phong, Thị xã Thái Hòa, Tỉnh Nghệ An
Điện thoại: 098.183.5689 – 0386.900.900
Email: [email protected]
Website: www.thuocnam.me

Posted on by